Chưa thể hiện rõ diện mạo mới của người công dân

Theo GS Nguyễn Minh Thuyết - Tổng chủ biên chương trình GDPT mới - chân dung con người mới qua chương trình đổi mới GDPT đó là phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học, là sự tiếp nối truyền thống xây dựng con người toàn diện có đức có tài, vừa hồng vừa chuyên của Việt Nam. Theo đó, chân dung của người công dân mới cần hình thành, phát triển ở học sinh 6 phẩm chất chính và 10 năng lực cốt lõi. 6 phẩm chất chính là: Yêu đất nước, yêu con người, chăm học, chăm làm, trung thực, trách nhiệm.

Về năng lực, đó là những năng lực mà ai cũng cần có để sống và làm việc trong xã hội hiện đại. Trong đó, 3 năng lực chung mà môn học và hoạt động giáo dục nào cũng cần và có thể hình thành, phát triển cho học sinh, gồm: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học nhất định: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất.

Bàn về các năng lực này, TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến - nguyên Trợ lý Bộ trưởng Bộ GDĐT - cho rằng, chương trình được xây dựng theo hướng mở nhưng việc thực hiện được nêu trong dự thảo chưa đảm bảo được tính mở này. Về phẩm chất năng lực, ở đây mới chỉ liệt kê được những năng lực gì và biểu hiện của nó ra sao. Biểu hiện chỉ là cơ sở để đánh giá phẩm chất năng lực chứ chưa phải là điều cần đạt về năng lực, ông Tiến nhấn mạnh.

“Làm thế nào để đạt được các phẩm chất, năng lực này? - đây là một câu hỏi lớn, hiện nay chương trình được đưa ra đang không giải đáp được vấn đề đó. Các định hướng về nội dung các môn học không nêu được lên cách đi tới các phẩm chất, năng lực đó. Các nhà viết nội dung chương trình học cần làm rõ điều này, học môn này thì xây dựng những phẩm chất năng lực nào. Vì ngày nay, việc xây dựng chương trình theo tiếp cận năng lực, cần làm rõ mối quan hệ nặng, nhẹ giữa từng năng lực chung với từng môn học/hoạt động giáo dục. Có như vậy mới định hướng được về kết quả đầu ra” - ông Tiến phân tích.

Bên cạnh đó, TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến cũng cho rằng, hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động mới được đưa vào chương trình với mục tiêu chính là chuyển hoá kiến thức, kỹ năng, thái độ thành năng lực. Vì vậy, đó không hẳn là một hoạt động riêng biệt mà chủ yếu là hoạt động gắn liền với từng môn học. Tuy nhiên, trong dự thảo hiện nay hoạt động trải nghiệm sáng tạo có vị trí riêng, vai trò như một môn học riêng biệt. Vấn đề đặt ra nữa là giáo viên nào sẽ là giáo viên phụ trách môn học này và liệu nhà trường sư phạm có phải xây dựng chương trình đào tạo các giáo viên chuyên về tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo không?

Ông Bùi Gia Thịnh - nguyên chuyên viên Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, chuyên gia biên soạn SGK - cũng đưa ra nhận định: Dự thảo chưa thấy rõ sự cần thiết phân chia rạch ròi các năng lực cốt lõi thành năng lực chung và năng lực chuyên môn vì cả hai loại năng lực đều quan trọng như nhau và quan hệ khăng khít với nhau. Cách trình bày về năng lực có vẻ không thống nhất trong các môn học khác nhau về cả cấu trúc chung đến thuật ngữ sử dụng. Sự phân biệt về mức độ năng lực tìm hiểu tự nhiên giữa các cấp học, đặc biệt là giữa cấp THCS và THPT chưa thật sự rõ ràng. Các năng lực cũng còn trình bày khá chung chung, khiến người ta có những cách hiểu khác nhau.

Học sinh THPT tại Hà Nội. Ảnh: HẢI NGUYỄN

Khó thực hiện các điều kiện liên quan

Nhiều chuyên gia cũng đưa ra những băn khoăn về điều kiện liên quan để có thể thực hiện chương trình. TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến băn khoăn với 4 nhóm điều kiện liên quan là tổ chức và quản lý nhà trường; cán bộ quản lý, giáo dục, nhân viên và học sinh; cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục; xã hội hoá giáo dục. Các điều kiện trên là hết sức cần thiết. Nhưng tính khả thi còn nhiều vấn đề cần băn khoăn.

Điều kiện căn bản nhất là nhà trường phải tự chủ về chuyên môn, tài chính, nhân sự... đây là những điều cực kỳ đúng nhưng sẽ không thể nếu thực hiện theo quyền tự chủ của NĐ 16 ngày 14.2.2015 về cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập, theo đó, mức độ tự chủ của nhà trường phụ thuộc vào mức độ tự đảm bảo kinh phí chi thường xuyên và chi đầu tư. Hiển nhiên, đối với các trường phổ thông, đặc biệt là trường tiểu học và THCS, quyền tự chủ sẽ rất hạn chế do sự phụ thuộc rất lớn của nhà trường vào ngân sách nhà nước. Vì thế, ông Tiến cũng đề xuất cần thiết có thể chế riêng về quyền tự chủ cho các trường phổ thông công lập theo mô hình quản trị lấy nhà trường làm cơ sở gắn liền với đổi mới giáo dục.

Đồng tình với quan điểm trên, TS Nguyễn Anh Dũng (Hội Khoa học Tâm lý giáo dục Việt Nam) cho biết: Các điều kiện được đưa trong quy định rất rõ nhưng chưa có sự cam kết của các cơ quan nhà nước để thực hiện. Vì thế, rất cần có sự cam kết của Nhà nước về các điều kiện này để đảm bảo thực hiện thành công. Ông Dũng cũng đưa ra đề nghị cần chuẩn bị cơ sở vật chất, nhân lực để thực hiện thời lượng dạy 2 buổi/ngày. Bên cạnh đó, số lượng học sinh trong một lớp cũng cần thiết giảm để đảm bảo đổi mới phương pháp dạy học. Vì thế cũng cần thiết phải đề xuất thêm biên chế, trong đó cũng rất cần giáo viên tư vấn học đường, tư vấn hướng nghiệp.

Ngoài ra, các chuyên gia cũng đặt ra vấn đề về thời gian quá ngắn để chuẩn bị cho các công việc như đào tạo giáo viên, biên soạn sách giáo khoa và chuẩn bị cơ sở vật chất.