Lương tối thiểu không thể khiến doanh nghiệp phá sản
Điều 91 Bộ luật LĐ 2012 quy định: “Mức LTT là mức thấp nhất trả cho NLĐ làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện LĐ bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ”. Đọc đi, đọc lại quy định của Bộ luật LĐ mà cảm thấy buồn. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến đời sống NLĐ, xem NLĐ là “vốn quý” của xã hội và DN, vì vậy mới thể chế hóa những quan điểm, chủ trương của Đảng thành những cơ chế chính sách đảm bảo đời sống, việc làm cho NLĐ. Nhưng hiện nay, thực trạng đời sống NLĐ còn rất nhiều khó khăn.
Hãy thử một lần ghé thăm những khu nhà trọ CNLĐ tại các KCN như Hòa Khánh, Liên Chiểu của TP.Đà Nẵng sẽ hiểu được họ đang sống như thế nào. Hình ảnh 5-6 CNLĐ góp chung tiền thuê ở chen chúc trong cùng một phòng trọ chưa đầy 13m2 không còn xa lạ. Điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, ăn uống không đảm bảo sức khỏe, nhu cầu sinh hoạt văn hóa, vui chơi của CNLĐ lại thiếu thốn, trong khi tăng ca, làm thêm giờ như một thói quen cuộc sống, bởi vì lương họ chỉ 2,7-3,1 triệu đồng/tháng. Nhìn những gương mặt NLĐ “xanh xao” sau những giờ tăng ca khiến chúng ta không khỏi xót xa. DN nếu thực sự xem NLĐ là “vốn quý” phải biết bao bọc, che chở họ, biết chăm lo đời sống, biết nghĩ cho họ. Thế nhưng, sự thật ngược lại.
Mới đây khi Hội đồng Tiền lương quốc gia thống nhất tăng LTT vùng thêm 12,4% trong năm 2016, nhiều DN lại đưa ra ý kiến không đồng tình, vì một lẽ là do năng suất lao động (NSLĐ) thấp, tăng lương sẽ làm tăng chi phí, dẫn đến nhiều DN sẽ phá sản. Xin thưa, lập luận nêu trên là chưa hợp lý. Việc NSLĐ của CNLĐ chúng ta thấp, không phải chỉ là lỗi của CNLĐ. Sự thật, đa số CNLĐ đi ra từ các vùng quê của các tỉnh như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Huế, Quảng Bình..., trình độ tay nghề còn thiếu vì chưa được qua trường lớp đào tạo, hiểu biết về pháp luật còn hạn chế. Tuy nhiên với những DN sản xuất các mặt hàng như chế biến thủy sản, dệt may, da giày hay gỗ, một CNLĐ bình thường chỉ cần 1 tháng có thể làm được việc. Sự thật, nếu đến những DN thủy sản vào mùa cá, mắm, mới thấy họ toàn thuê những CN thời vụ vào làm những việc rất đơn giản như lọc da lấy philê, rửa cá... Hơn nữa, có CNLĐ nào lại không muốn tăng NSLĐ, vì tăng NSLĐ sẽ được DN tăng lương.
Nhưng có ai hiểu việc tăng NSLĐ đâu chỉ phụ thuộc vào CNLĐ, mà nó phụ thuộc phần lớn ở chủ DN, phụ thuộc vào cơ chế quản lý, điều hành, dây chuyền máy móc, thiết bị của DN. Nếu cơ chế quản lý DN, quản lý LĐ không hiệu quả để giảm chi phí sản xuất, máy móc thiết bị với công nghệ lạc hậu, máy móc thiết bị rẻ và chất lượng hoạt động kém hiệu quả, NSLĐ của CNLĐ làm sao tăng được?
Nên chia sẻ lợi ích với “vốn quý”
Một ông giám đốc thấy tình hình kinh doanh của DN kém, bàn biện pháp để giảm chi phí sản xuất bằng cách điều chuyển NLĐ lớn tuổi, lương cao, mức đóng BHXH nhiều qua làm những công việc khác trái với HĐLĐ để giảm mức lương của NLĐ, dần dần làm cho họ chán nản, xin nghỉ việc. Một DN sản xuất da giày, thay vì nhập máy móc hiện đại, giảm LĐ và tăng NSLĐ thì lại nhập những máy móc cũ kỹ đã qua sử dụng, tốn nhiều chi phí vận hành, máy móc thường xuyên bị hư hỏng vặt. Để đối phó với việc tăng LTT của Chính phủ, DN xây dựng lại thang lương, bảng lương bằng cách kéo dài, chia nhỏ thành nhiều bậc. Một ông chủ suốt ngày cứ hô hào là tăng ca, làm thêm giờ để tăng NSLĐ, tuy nhiên chỉ cho NLĐ ăn cơm giữa ca với mức 11.000 - 15.000 đồng/bữa. Thử hỏi với cách quản lý, điều hành và sử dụng LĐ của một số DN theo kiểu “ăn xổi”, “chụp giật” hiện nay, xin thưa có đưa kỹ sư học ở trời Tây, Mỹ về cũng khó lòng mà làm được việc và CNLĐ có “tài thánh” cũng không thể yên tâm làm việc để tăng NSLĐ cho DN được. Vậy thì, DN lấy lý do NSLĐ thấp để không tăng LTT có hợp lý, hợp tình?
Ở góc độ là người làm chính sách, tôi cho rằng, chúng ta không nên quá ngại việc phá sản DN. Sự ra đời hay phá sản một DN là hiện tượng khách quan của xã hội, cái cũ mất đi sẽ xuất hiện cái mới, cái mới nó sẽ tốt hơn cái cũ. Hơn nữa, hiện nay tốc độ phá sản của DN thấp hơn tốc độ thành lập DN mới. Sắp tới Việt Nam chúng ta sẽ tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), sẽ xuất hiện ngày càng nhiều hơn sự cạnh tranh khốc liệt trong hoạt động kinh doanh của DN. Việc phá sản hay ra đời DN mới là bình thường. Thậm chí điều này là động lực cho nền kinh tế nói chung phát triển và cũng là động lực cho mỗi DN phải cơ cấu lại sản xuất, điều hành, quản lý và sử dụng LĐ một cách chuyên nghiệp hơn, góp phần phát triển chung của cộng đồng DN.
Khi sự cạnh tranh trở nên gay gắt, đòi hỏi các DN và NLĐ có sự chia sẻ và thấu hiểu lẫn nhau, DN cần có sự sẻ chia nhiều hơn, chăm lo tốt hơn cho “vốn quý” của mình dù lợi nhuận có thể thấp hơn một chút. Một trong những cách chăm lo đó là phải thực hiện tốt việc tăng LTT cho NLĐ. Lúc đó CNLĐ mới thật sự tận tâm, ra sức cống hiến, gắn bó và thúc đẩy DN phát triển.