Hôm ấy, một chiều hè năm 2014, cơn giông vừa thoáng qua không làm dịu đi cái nóng của một mùa hè oi ả. Chi nhánh Cảng Tân Vũ (lúc này vẫn còn mang tên XNXD Tân Cảng) đang cùng toàn công ty TNHH MTV Cảng Hải Phòng trong giai đoạn gấp rút hoàn thành quá trình cổ phần hoá. Đơn vị chúng tôi vẫn đang trong thời kì vừa hoạt động, vừa xây dựng và kiện toàn về mọi mặt, nên chúng tôi luôn muốn đi tìm hiểu tâm tư nguyện vọng về công việc, về hoàn cảnh, về môi trường, về những băn khoăn thắc mắc của người lao động.

Tôi theo chân các đồng chí trong Ban chấp hành Công đoàn và lãnh đạo chi nhánh xuống kiểm tra hiện trường, xem xét tình hình hoạt động của xí nghiệp. Sau khi kiểm tra hết các bộ phận cầu bến, văn phòng các đội chúng tôi chuẩn bị di chuyển sang phòng Thủ tục thuộc Ban Kinh doanh tiếp thị chi nhánh. Dừng chân trước của phòng, chúng tôi thấy một sức nóng khủng khiếp đang bao chùm lấy cả gian phòng. Khách hàng đông đúc, tiếng nói ồn ào, đôi lúc nghe thấy xen lẫn cả tiếng quát tháo của một vài khách hàng khó tính và giọng nói nhỏ nhẹ của nhân viên đang kiên nhẫn giải thích cho khách hàng. Phòng thủ tục hơi chật, người đến đổi lệnh hôm ấy dường như tăng gấp bội, vì chỉ trong hai ngày liên tiếp có 7 tàu cập cảng làm hàng. Dù rằng đã được lãnh đạo công ty cấp cho 1 phòng chờ bấm số lấy thứ tự bên cạnh nhưng có lẽ như thế vẫn là không đủ không gian cho những khách hàng nóng tính và vội vã. Họ chen chân nhau, trèo cả lên ghế và cửa sổ, liên tục giục các nhân viên trong phòng nhanh chóng cấp lệnh. Nhân viên trong phòng lúc này mồ hôi rịn trên áo, trên trán, giấu đi ánh mắt mệt mỏi, căng thẳng nhưng vẫn tươi cười tiếp đón khách hàng, kiểm tra thủ tục giấy tờ của khách hàng, bàn tay lướt nhanh thoăn thoắt trên bàn phím.

Chúng tôi lặng nhìn và quan sát, cảm nhận cái nóng đó dần truyền sang từng người một. Mỗi người chúng tôi lúc đấy có một tâm trạng khác nhau nhưng chắc có lẽ ai cũng thấy nóng bởi cường độ, không khí làm việc ở nơi đây và cảm nhận thấu hiểu được những gì mà nhân viên chúng tôi đã, đang làm việc trong cả mùa hè vừa qua.

Quan sát một lúc, chúng tôi ai lấy lặng lẽ rời khỏi phòng sau câu động viên của lãnh đạo. Ngay ngày hôm sau và những ngày sau đó tôi thấy một số anh chị em nói lại đã được lãnh đạo xuống hỏi thăm, động viên và lắng nghe những khiếu nại của anh chị em nơi đây. Tất cả ý kiến và những khiếu nại đều về chung 1 vấn đề đó là:

Khu vực cổng hai của chi nhánh bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 7/2013 lúc đó lượng hàng hoá thông qua cảng vẫn chưa quá nhiều như thời điểm hiện tại. Sau một năm, với uy tín và sự tận tâm, chất lượng khai thác của cảng đã ngày một hiệu quả và nâng cao. Bên cạnh đó Tân Vũ hiện nay là 1 cảng nước sâu, được đầu tư và lắp đặt hệ thống trang thiết bị hiện đại, hoạt động chuyên nghiệp nên chi nhánh ngày càng thu hút các hãng tàu chọn là điểm đến cho dịch vụ khai thác của mình. Lượng tàu và hàng hoá thông qua cảng tăng nhanh. Vì thế , diện tích dành cho phòng làm thủ tục đổi lệnh của khách hàng ngày càng trở nên chật hẹp và không còn phù hợp với qui mô hoạt động ngày càng mở rộng của đơn vị. Rất nhiều khách hàng có ý kiến phản hồi lại với nhân viên ban Kinh doanh tiếp thị: “ Cả cái Cảng lớn thế này mà phòng thủ tục bé như cái nhà vệ sinh, nhân viên làm việc có mỗi 2 cái điều hoà yếu không ra nổi hơi lạnh. Phòng đã bé lại còn nằm giữa trời thế này quá như cái lò thiêu, không có tí không khí nào để mà thở nữa ”. Bên cạnh đó, nhân viên và khách hàng cũng rất bức xúc về điều kiện sinh hoạt tối thiểu hàng ngày như: nhà vệ sinh cách xa nơi làm việc, quãng đường tới đó rất nguy hiểm bởi phải đi ngang qua cổng 8 làn với mật độ di chuyển xe container lớn, thường xuyên bị mất nước sinh hoạt, hệ thống vệ sinh bị hỏng hóc. Dẫn đến việc môi trường làm việc xung quanh ô nhiễm, bụi bặm và thiếu an toàn.

Về vấn đề  này tại Điều 138 Bộ luật lao động quy định nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động đó là:

- Bảo đảm nơi làm việc đạt yêu cầu về không gian, độ thoáng, bụi, hơi,khí độc, phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn rung, các yếu tố có hại khác được quy chuẩn kỹ thuật liên quan và các yếu tố đó phải được định kỳ kiểm tra, đo lường;

- Bảo đảm điều kiện an toàn lao động, về sinh lao động đối với máy, thiết bị, nhà xưởng đạt các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động, về sinh lao động hoặc đạt các tiêu chuẩn về an toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi làm việc đã được công bố, áp dụng;

- Kiểm tra, đánh giá các yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc của cơ sở để đề ra các biện pháp loại trừ, giảm thiểu các mối nguy hiểm, có hại, cải thiện điều kiện lao động, chăm sóc sức khoẻ cho người lao động;

- Định kì kiểm tra, bảo dưỡng máy, thiết bị, nhà xưởng, kho tàng;

- Phải có bảng chỉ dẫn về an toàn lao động, về sinh lao động đối với máy, thiết bị, nơi làm việc và đặt ở vị trí dễ đọc, dễ thấy tại nơi làm việc;

- Lấy ý kiến tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở khi xây dựng kế hoạch và thực hiện các hoạt động bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động.

Như vậy qua cách hiểu của CBCNV ở đây thấy rằng người sử dụng lao động ở đây đã vi phạm ở ý 1 và ý 3 trong điều này. Người lao động không hiểu hết về luật này. Các nhân viên chỉ đơn giản hiểu là môi trưòng, điều kiện làm việc chưa thực sự tốt. Đôi khi vì cuộc sống mưu sinh, vì nhiều lí do mà họ chưa thể đưa ra kiến nghị khiếu nại của mình. Hoặc muốn có khiếu nại thì lại phải đợi đến khi có hội nghị người lao động cấp cơ sở, sau đó từ cấp cơ sở mới đề xuất ý kiến nên hội nghị người lao động cấp chi nhánh. Rồi người lao động lại chờ đợi xét duyệt của cấp trên. Cứ thế thời gian đợi chờ kéo dài, kéo theo tâm lí ngại tiếp xúc, ngại đề xuất,kiến nghị của người lao động. Đã có lúc nhân viên làm việc ở đây cảm thấy chán nản, không muốn cống hiến, không muốn phát huy những mặt mạnh trong công tác của mình. Họ thấy mệt mỏi bởi làm việc ở môi trường như vậy. Cũng bởi áp lực công việc cao và môi trường làm việc chưa tốt nên nhân viên không đảm bảo được sức khoẻ cũng như tinh thần làm việc dẫn đến việc thay nhau nghỉ ốm khiến cho công việc ở đây ngày một khó khăn và ban Kinh doanh tiếp thị có lúc rơi vào tình trạng thiếu nhân lực làm việc. Chính điều này, cho thấy một số những bất cập trong chính sách, qui định hiện hành đối với người lao động và các hoạt động khiếu nại của họ.

Giải pháp cung cấp kiến thức pháp luật cho người lao động và doanh nghiệp

 Thấy được sự quan tâm, cởi mở, động viên của các cấp lãnh đạo Chi nhánh đối với công việc và những nguy hiểm mà các nhân viên đang đối mặt. Hiểu được quyền và nghĩa vụ cụ thể của công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp được qui định trong Luật Công đoàn năm 2012 và Bộ luật Lao động năm 2012 đã được cụ thể và chi tiết hơn so với trước đây. Trong đó, các quy định mới tập trung vào việc nhấn mạnh vai trò của Công đoàn trong thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc, đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể, thoả ước lao động tập thê, tham gia giải quyết tranh chấp lao động, tổ chức và lãnh đạo đình công; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động tại doanh nghiệp. Một đồng chí thay mặt toàn thể anh chị em đang sinh hoạt và làm việc ở khu vực cổng hai đã trực tiếp gặp mặt lãnh đạo ban, lãnh đạo chi nhánh và  BCH công đoàn đưa ra những ý kiến và đề xuất của mình.

Qua buổi gặp mặt tiếp xúc trực tiếp với người lao động, BCH Công đoàn và công đoàn cơ sở đã nêu rõ cho người lao động thấy được những quy chế dân chủ ở cơ sở, đối thoại tại nơi làm việc, hội nghị người lao động đó là:

Theo quy định tại Bộ luật Lao động, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể và thoả ước lao động tập thể trong doanh nghiệp có vị trí quan trọng để xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ. Đối thoại – thương lượng phải được thực hiện thường xuyên theo định kỳ và đột xuất trên cơ sở trách nhiệm hợp tác, năng động giữa các bên trong quan hệ lao động nhằm cung cấp, trao đổi thông tin và giải quyết kịp thời những vấn đề vướng mắc, phát sinh giữa người lao động và người sử dụng lao động; hoặc giữa đại diện tập thể người lao động với người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động. Theo khoản 2 Điều 63 Bộ luật Lao động: “Đối thoại tại nơi làm việc được thông qua việc trao đổi trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động hoặc giữa công đoàn cơ sở với người sử dụng lao động, bảo đảm việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở”. Về đối thoại định kỳ tại nơi làm việc ( Điều 10 Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/06/2013 của Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 của Bộ luật Lao động về quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc), công đoàn cơ sở có quyền, trách nhiệm:

- Phối hợp thực hiện 03 tháng một lần; khoảng cách giữa hai lần đối thoại định kỳ liền kề tối đa không quá 90 ngày ( người sử dụng lao động chủ trì ).

- Tham gia ý kiến vào quy chế đối thoại định kỳ tại nơi làm việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động;

- Tổ chức bầu các thành viên đại diện cho bên tập thể lao động tham gia đối thoại tại hội nghị người lao động.

Sau khi đuợc biết về những thông tin pháp luật công đoàn, pháp luật lao động những nhân viên tại nơi đây rất cởi mở, vui vẻ và thoải mái. Họ đề xuất thẳng thắn những ý kiến, kiến  nghị của mình và rất mong lãnh đạo chi nhánh, BCH công đoàn thay mặt người lao động có ý kiến đóng góp lên lãnh đạo công ty giải quyết nhanh những vấn đề phát sinh tại đây. Từ việc này cho ta thấy, công đoàn cấp cơ sở tại các ban, đội sản xuất là rất cần thiết trong việc tuyên truyền, phổ biến cung cấp kiến thức pháp luật cho người lao động và doanh nghiệp. Chưa nói tới nội dung tuyên truyền, chỉ xét riêng về các hình thức của công tác này, chúng ta đã có thể thấy có rất nhiều, hay nói cách khác là hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho công nhân đang đuợc cải tiến và đa dạng hoá. Nhằm nâng cao hiệu quả, các cấp công đoàn cơ sở trước tiên phải là những đội ngũ tiên phong trong việc luôn cố gắng đổi mới nội dung, cách làm, đa dạng hoá hình thức thông tin tuyên truyền bằng biện pháp như: phát triển số lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên. Công đoàn cấp cơ sở nên thường xuyên sinh hoạt định kì, nắm bắt tâm tư tình cảm, những vướng mắc trong sinh hoạt công việc thường ngày tại nơi làm việc để từ đó kịp thời phản ánh tới BCH công đoàn chi nhánh. Luôn gần gũi và thông tin cho người lao động những kiến thức luật pháp, có thể bằng hình thức sinh hoạt định kỳ, hoặc có thể bằng hình thức trong lúc giải lao nói chuyện truyền đạt lại, lồng ghép thêm từ những câu chuyện trao đổi trong cuộc sống thường nhật. Để nâng cao hơn nữa về hình thức, các cấp công đoàn cơ sở,

 Chưa nói tới nội dung tuyên truyền, chỉ xét riêng về các hình thức của công tác này, chúng ta đã có thể kể ra rất nhiều, hay nói cách khác là hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho công nhân đang được cải tiến và đa dạng hóa. Nhằm nâng cao hiệu quả, các cơ quan chức năng luôn cố gắng đổi mới nội dung, cách làm, đa dạng hóa hình thức thông tin tuyên truyền bằng các biện pháp như: phát triển số lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên; bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao chất lượng của đội ngũ này; thành lập mạng lưới các trung tâm tư vấn, văn phòng tư vấn pháp luật; xây dựng nhiều tổ tư vấn lưu động; tổ chức các buổi nói chuyện định kỳ hoặc không định kỳ cho công nhân (mô hình “Ngày pháp luật”, “Tháng công nhân”…); tổ chức hội thi tìm hiểu pháp luật; in ấn và phát tờ rơi; phát hành đĩa CD; xây dựng tủ sách pháp luật; sân khấu hóa (sáng tác và biểu diễn các tiểu phẩm); sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, truyền thanh, báo chí…Công nhân đã đi làm được một số năm lại có những vấn đề của mình. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật cần có sự lựa chọn theo nguyên tắc ưu tiên. Nhóm công nhân nào cần ưu tiên trang bị những kiến thức nào trước. Nếu phổ biến đồng loạt hoặc tuyên truyền liên tục quá nhiều kiến thức thì công nhân khó mà hấp thụ. Họ sẽ cảm thấy xa vời, “chắc gì mình đã cần”. Đặc điểm chung của công nhân là làm việc nặng nhọc, phải làm tăng ca, thêm giờ, do đó hầu như không có thời gian rảnh rỗi. Sau giờ làm việc quá mệt mỏi, cộng thêm trình độ văn hóa hạn chế, tất nhiên, họ ngại đọc (đọc sách), ngại nghe những gì dài dòng, khô khan (nghe báo cáo) chưa kể đến những thuật ngữ rắc rối. Nếu có đọc hay nghe thì họ cũng sẽ chẳng hiểu được là bao và sẽ quên rất nhanh nếu chưa thấy sát sườn. Do đó, hình thức tuyên truyền cần ngắn gọn đến tối đa, cách diễn đạt phải thật đơn giản và liều lượng kiến thức phải dần dần từng ít một. Nội dung tuyên truyền cần được lựa chọn theo nguyên tắc ưu tiên, cái gì cần thiết nhất cho nhóm đối tượng nào trước hết thì phổ biến trước, cái gì chưa cần ngay thì từ từ. Qua ví dụ ở phần trên, chúng ta có thể thấy là rất nhiều kiến thức pháp luật đã được phổ biến mà chưa có sự phân loại, ưu tiên theo đối tượng và thời điểm. Một đặc điểm nữa của công nhân là hầu hết họ còn rất trẻ. Giới trẻ thường ưa thích những gì vui nhộn, hài hước, hiện đại. Vì thế, sẽ dễ nhớ, dễ hiểu hơn đối với họ nếu những kiến thức pháp luật được chuyển thành tiếu phẩm hài, hay ca dao, hò vè đời mới. Những bài nói chuyện của báo cáo viên sẽ hiệu quả hơn nếu báo cáo viên cũng trẻ tuổi và có năng khiếu hài, có thể đối thoại với công nhân bằng ngôn ngữ của giới trẻ chứ không chỉ đơn thuần là đọc báo cáo hay nói chuyện theo cách cũ. Nếu phát hiện và bồi dưỡng được những tuyên truyền viên từ trong chính công nhân thì sẽ mang lại hiệu quả rất tích cực.

Những hành động thiết thực đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của người lao động

Cuối năm 2014, lãnh đạo công ty đã ký quyết định phê duyệt dự án mở rộng phòng thủ tục. Với mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng đồng thời tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, thoải mái cho người lao động. Mùng 6 Tết 2015, toàn bộ phòng chờ khách hàng được cải tiến nâng cấp sạch đẹp, rộng rãi. Quầy thủ tục được trang bị thêm 9 máy tính hiện đại, hoạt động hết năng suất, phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác. Bên cạnh đó, hệ thống làm mát, thông khí cũng được đầu tư thêm khiến khách hàng và người lao động như giảm bớt sự mệt mỏi trước cường độ làm việc cao và bầu không khí nóng bức.

Sự quan tâm chu đáo của lãnh đạo công ty - người sử dụng lao động đối với CBCNV - người lao động còn được thể hiện ở việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết thực. Hệ thống nhà vệ sinh đang được xây mới đằng sau phòng thủ tục, nhằm đảm bảo tuyệt đối an toàn tính mạng cho người lao động khi không phải đi ngang qua cổng 8 làn với hàng loạt xe container chạy liên tục, và việc phục vụ khách hàng cũng được chu đáo hơn, môi trường làm việc xanh – sạch - đẹp hơn.