Công nghệ cũ ảnh hưởng đến sức khỏe NLĐ

Một trong những công trình tiêu biểu cho mục tiêu trên là đề tài "Nghiên cứu, tính toán, lập phương án đầu tư cải tạo dây chuyền Supe 1 XN Supe Phốt phát sang sản xuất Supe Lân theo phương pháp nghiền ướt công suất 400.000 tấn/năm". Đây cũng là một trong số các đề tài hướng đến sản xuất xanh của Cty.       

Theo công nghệ cũ, trước năm 2013 sản xuất supe lân tại dây chuyền supe 1 là sử dụng quặng apatit nguyên khai loại 1 đã qua sấy khô nghiền mịn trộn với quặng apatit tuyển ẩm và sử dụng axit H2SO4 nồng độ 80¸85% để phân hủy hỗn hợp quặng trong thùng trộn.

Nhược điểm của công nghệ sản xuất supe lân theo phương pháp này: Thiết bị cồng kềnh bao gồm các hệ thống lò than, thùng sấy, hệ thống thiết bị nghiền má, nghiền búa, nghiền bi, các hệ thống băng tải vận chuyển, hệ thống xử lý bụi, … dùng để sấy quặng apatit nguyên khai từ độ ẩm tự nhiên 12% xuống đến độ ẩm 1,5¸2% và nghiền tạo bột mịn đến cỡ hạt 0,16mm.

 Dây chuyền sản xuất supe lân theo phương pháp nghiền bi ướt. 

Công đoạn này là nguồn phát ra tiếng ồn, nhiệt độ cao, bụi và khí ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe của NLĐ. Ngoài ra, sản xuất bằng công nghệ này còn tiêu tốn chi phí mua than cám: Bình quân gần 3.000 tấn/năm; chi phí nhân công vận hành sấy quặng, nhân công cho việc thu hồi quặng ở ao lắng; tốn diện tích mặt bằng để phơi quặng thu hồi, vận chuyển vào kho, mặt bằng kho chứa than; khi đốt than phát sinh bụi, khí CO, CO2, Flo, … là yếu tố  ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe của NLĐ.

 Áp dụng công nghệ mới vì NLĐ

 Để khắc phục những nhược điểm trên và nâng cao hiệu quả sản xuất, Cty đã tiến hành nghiên cứu, tính toán, lập phương án cải tạo dây chuyền Supe I XN supe phốt-phát sang sản xuất supe lân theo phương pháp nghiền bi ướt.

Công việc đầu tư cải tạo bao gồm: Đầu tư cải tạo lắp đặt hệ thống máy nghiền bi ướt; lắp đặt thêm hệ thống hấp thụ mới; lắp đặt bổ sung đường ống hút khí Flo từ thùng trộn, đảm bảo môi trường, thuận tiện và an toàn trong vận hành điều chế; lắp bổ sung van, đường hồi lưu bùn quặng đưa lên điều chế để điều khiển năng xuất bùn quặng; cải tạo hệ thống lưới sàng ở đầu ra bùn của máy nghiền ướt…

Giải pháp đã chính thức đưa vào sản xuất từ tháng 1.2013, hệ thống thiết bị làm việc ổn định, đảm bảo năng suất, các chế độ kỹ thuật công nghệ, khí thải và chất lượng của sản phẩm như các tiêu chuẩn đã công bố.

Hiệu quả giải pháp: Thiết bị gọn nhẹ do bỏ được hệ thống nghiền và hệ thống các thiết bị phụ trợ kèm theo, các thùng sấy, lò đốt than, hệ thống sủi bọt thu hồi bụi; giảm chi phí mua than cám 4A bình quân 3.000 tấn/năm và chuyển được 3 gian kho chứa than sang chứa quặng apatit.

Việc trên đã góp phần giảm sử dụng nguồn khoáng sản đã dần cạn kiệt, đồng thời góp phần giảm hiệu ứng nhà kính; giảm gần 20% chi phí điện năng (giảm gần 5kwh/tấn sản phẩm) tương đương gần 2 triệu kwh/năm; không còn phát sinh bụi, tiếng ồn, cải thiện môi trường làm việc và sức khỏe của người lao động, giảm hàm lượng khí Flo thải ra môi trường đạt theo tiêu chuẩn QCVN…

Chỉ tính riêng giá trị làm lợi từ việc giảm chi phí mua than và tiết kiệm điện năng: hơn 7 tỉ đồng/năm. Như vậy, đề tài trên đã mang lại lợi ích rõ rệt cho Cty và trên hết, đã cải thiện môi trường làm việc cho NLĐ - mục tiêu chính mà lãnh đạo Công ty hướng tới. 

Lê Thị Thúy Nga (Cty CP supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao)