“Chiêu bài” giải thể để né trả lương, trả thưởng

Theo nghiên cứu của Viện CN-CĐ, thu nhập trung bình của NLĐ chỉ đạt 3,667 triệu/tháng. Tuy nhiên, ông Vũ Quang Thọ - viện trưởng - nhấn mạnh: “Số liệu đó được tổng hợp trong số những người có việc làm ổn định chứ không bao gồm những người lao động thời vụ, bấp bênh”.

Nghiên cứu của PGS-TS Đinh Quang Hải - Viện trưởng Viện Sử học VN - cũng chỉ ra thu nhập của các DN có vốn đầu tư nước ngoài so với các DN tư nhân ngoài nhà nước có cao hơn nhưng lại tiềm ẩn sự rủi ro, bấp bênh hơn do nhiều DN có tình trạng sản xuất không ổn định, bị cắt xén đơn đặt hàng, nhiều DN phải đóng cửa; nhiều CN bị sa thải, nghỉ việc không lương, hoặc chỉ hưởng 50% lương. Cụ thể như Cty Keyshing Toys (100% vốn Đài Loan tại KCN Hòa Khánh - Đà Nẵng), năm 2008 có 12.000 CN, đến tháng 9.2009 chỉ còn 8.500 CN; Cty Nissel khi xảy ra khủng hoảng tài chính thế giới đã quyết định cho 1.000 CN nghỉ việc không lương...

Thực tế cho thấy, các vụ lãn công đều do DN đơn phương cắt lương, cắt phụ cấp; trả lương cơ bản không đúng với thang - bảng lương đã đăng ký; chậm điều chỉnh mức lương cơ bản giữa lao động cũ và mới; trả lương không công bằng, minh bạch...; thậm chí có DN không có quy chế tiền lương. Bên cạnh đó, lương, thưởng tết cũng là vấn đề bức xúc không hề nhỏ đối với đại bộ phận CNLĐ.

Cũng theo ông Vũ Quang Thọ, rất nhiều DN tư nhân và FDI cứ đến cuối năm là lại dùng “chiêu bài” giải thể để né việc trả lương, trả thưởng cho CNLĐ. Đó là còn chưa nói đến việc có sự chênh lệch quá lớn về lương, thưởng giữa các DN với nhau, giữa những NLĐ trong một DN. Theo số liệu mà Viện CN-CĐ có được, thưởng tết năm nay ở miền Bắc có mức từ 100.000đ - 65 triệu đồng; con số này ở miền Nam là 200.000đ - 703 triệu đồng.

Không đủ sống và không được tham gia BHXH

Hiện cả nước có khoảng 1,9 triệu LĐ đang làm việc tại các KCN, trong đó, 70% là người ngoại tỉnh và có nhu cầu thuê nhà ở. Nhưng hiện tại, các KCN mới chỉ đáp ứng được khoảng 7-10%, trên 90% số LĐ còn lại vẫn phải thuê nhà trọ của các hộ dân với mức chi phí không hề nhỏ bởi điện, nước... đều phải trả phí cao hơn mức bình thường.

Bên cạnh đó, mong muốn được gửi con vào các trường mầm non công lập là nhu cầu chính đáng của nhiều CNLĐ trong các KCN, nhưng theo nghiên cứu nói trên thì có tới 81,1% số CN khó khăn khi gửi con nhà trẻ, mẫu giáo khi không có hộ khẩu thường trú và 86% phải chạy vạy, chi phí tốn kém để cho con vào trường công lập.

Đó là khó khăn trước mắt; nhưng có những thiệt thòi trong tương lai mà rất nhiều NLĐ đang và sẽ có nguy cơ phải gánh chịu: Đó là tình trạng trốn BHXH, BHYT, BHTN của khá nhiều DN trong cả nước. Theo số liệu đăng trên báo BHXH VN, tính đến ngày 31.8, hàng trăm DN trên các địa bàn Bình Dương, Cà Mau, Đà Nẵng, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hà Nội... có số nợ BHXH từ 1 tỉ đồng trở lên. Trong đó, Hà Nội có số nợ lớn nhất với tổng số nợ của 125 đơn vị lên tới 3.582 tháng cùng số tiền 404,423 tỉ đồng. Tiếp theo là Bình Dương, 75,247 tỉ đồng (của 20 đơn vị và 505 tháng)...

Theo TS Nguyễn Thị Anh Thơ - Viện Khoa học BHXH VN - có 4 hành vi nợ BHXH phổ biến của người sử dụng LĐ: Không đóng BHXH cho NLĐ; có tham gia đóng BHXH nhưng chỉ cho một bộ phận NLĐ; có tham gia đóng BHXH cho NLĐ nhưng chỉ ở mức lương tối thiểu và có tham gia đóng BHXH cho NLĐ nhưng giữ lại, chiếm dụng vốn.

“Điều quan trọng là cho dù không đóng BHXH hay có đóng cho NLĐ, nhưng với những hình thức như trên thì NLĐ vẫn là người phải chịu thiệt thòi. “Đây cũng là kẽ hở của luật pháp. Cần nghiên cứu bổ sung tội danh trốn đóng BHXH trong Bộ luật Hình sự để có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi cố ý làm trái quy định của pháp luật về đóng BHXH... Chỉ có như vậy mới đảm bảo được đời sống cho NLĐ..., hướng tới một nền an sinh xã hội bền vững” - bà Anh Thơ bổ sung.

 

Ngày 24.1, tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu CN-CĐ tổ chức Hội thảo “Những vấn đề bức xúc, cấp bách của giai cấp công nhân VN hiện nay; vai trò của tổ chức CĐ”. Dưới sự chủ trì của Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN Nguyễn Văn Ngàng, nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu khoa học, xã hội tham gia đã cùng bàn luận về các vấn đề: Việc làm, thu nhập của giai cấp CN; vấn đề nhà ở, nhà trẻ, mẫu giáo cho gia đình CN; vấn đề BHXH, BHYT, BHTN; vấn đề phân hóa trong nội bộ giai cấp CNVN...
   

Ý kiến của một số đại biểu dự hội thảo:

* PGS-TS Đinh Quang Hải (Viện Sử học VN): Tôi cho rằng, đội ngũ CN hiện đang rất thất thế về thu nhập. CNLĐ của chúng ta những năm gần đây có tốc độ phát triển rất nhanh, nhất là từ khi các KCN, KCX mọc lên như nấm ở khắp mọi nơi. Lượng CNLĐ tập trung về các nơi đó đông, nhưng họ không mạnh, thậm chí nhiều người chưa hề được đào tạo nên phải chấp nhận làm việc với mức lương rất thấp. Trong khi đó, những người khác có trình độ cao, kiếm được việc làm tốt thì có thu nhập rất cao. Vì vậy, dẫn đến tình trạng phân hóa giàu - nghèo ngay trong đội ngũ CNLĐ ngày càng rõ nét và phổ biến. Những người thu nhập thấp có nguy cơ ngày càng bị bỏ xa, khoảng cách về mọi mặt như nhà ở, đời sống văn hóa tinh thần, điều kiện để được học hành nâng cao trình độ... so với những người có điều kiện khác.

* TS Nguyễn Thị Bích Diệp (Viện Nghiên cứu thanh niên): Nói về thu nhập của CNLĐ đang làm việc trực tiếp ở các DN hiện nay, có thể khẳng định nhiều người thấp ở mức đáng ngại. Mức thu nhập đó khiến cho họ không thể có đủ điều kiện để đầu tư cho các hoạt động vui chơi giải trí. Họ chỉ còn cách dành hết thời gian có thể để tăng ca, làm thêm giờ và kiếm việc khác nữa để tăng thêm thu nhập. Vì hạn chế về đời sống văn hóa, tinh thần nên họ còn bị ảnh hưởng đến cả sức khỏe thể chất. Đây là thực trạng hết sức đáng lo ngại, là cản trở lớn cho chiến lược nâng cao chất lượng đội ngũ CN, giai cấp giữ vai trò lãnh đạo cách mạng. Để khắc phục được điều này, cần có sự vào cuộc của cả các DN, những tổ chức đang hằng ngày, hằng giờ quản lý và trực tiếp quyết định việc làm, thu nhập và đời sống của đội ngũ CNLĐ.

* PGS-TS Vũ Quang Vinh (Tạp chí Lịch sử Đảng): Công tác phát triển đảng trong CN đang gặp phải rất nhiều khó khăn. Thời gian gần đây, chỉ có khoảng 10% số đảng viên mới được kết nạp là CN. Số lượng CN tăng nhanh trong các DN ngoài nhà nước - nhất là các DN thuộc khối FDI, nhưng các DN đó hầu như không quan tâm đến việc có tổ chức đảng và phải phát triển đảng viên như thế nào. Thời gian tới, để thực tế đáng lo ngại đó được cải thiện, chúng ta cần triển khai đồng thời nhiều giải pháp, trong đó cần chú ý tăng cường công tác tuyên truyền tới số ít đảng viên trong các DN và chủ sử dụng LĐ ở những DN đó. Các tiêu chuẩn, điều kiện phát triển đảng, kết nạp đảng viên trong các DN cũng cần được ban hành và phải thật phù hợp với điều kiện thực tế. Hiện ở một số KCN vẫn còn hiện tượng ”trắng” đảng viên là CN, nên chúng ta cần tổ chức khảo sát lại để có giải pháp khắc phục ngay điều này. Giai cấp CN là giai cấp lãnh đạo cách mạng nên không thể để những người có vai trò to lớn như vậy xa rời Đảng.

Phạm Chí (ghi)