Đáng chú ý, Luật Kiểm toán nhà nước (sửa đổi) đã quy định rõ hơn về trách nhiệm của Kiểm toán nhà nước (KTNN). Luật đã quy định cụ thể về trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân của KTNN tương xứng với nhiệm vụ và quyền hạn, trong đó: Tổng KTNN là người đứng đầu chịu trách nhiệm về tổ chức và hoạt động của KTNN, đặc biệt là quy định “Tổng KTNN chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung báo cáo kiểm toán của Kiểm toán nhà nước” (khoản 3 điều 13).

Trong hoạt động kiểm toán của KTNN, cơ chế trách nhiệm được quy định theo thứ bậc từ thấp đến cao, từ: Trách nhiệm của các thành viên đoàn kiểm toán không phải là kiểm toán viên nhà nước (khoản 2 Điều 43), thành viên đoàn kiểm toán là kiểm toán viên nhà nước (Điều 22), tổ trưởng tổ kiểm toán (tại khoản 3 Điều 41), trưởng đoàn kiểm toán (tại khoản 3 Điều 39), phó trưởng đoàn kiểm toán (Điều 40), kiểm toán trưởng và phó kiểm toán trưởng (Điều 17), phó tổng KTNN (khoản 1 Điều 15) đến trách nhiệm của tổng KTNN (tại Điều 13). Vì vậy, trách nhiệm của KTNN đã đầy đủ, rõ ràng.

Trước khi Quốc hội thông qua Luật Kiểm toán nhà nước sửa đổi, đã có yêu cầu giải trình về ý kiến đề nghị, cần quy định KTNN có trách nhiệm liên đới khi cơ quan thanh tra, điều tra phát hiện sai phạm tại các đơn vị được kiểm toán mà trước đó KTNN đã thực hiện kiểm toán nhưng không phát hiện được những sai phạm này.

Về vấn đề này, Chủ nhiệm Ủy ban tài chính ngân sách Phùng Quốc Hiển cho rằng, giữa các cơ quan thanh tra, điều tra và KTNN có sự khác biệt về mục đích hoạt động, phương pháp, trình độ nghiệp vụ và phạm vi hoạt động. Trong thực tế, KTNN cũng như cơ quan thanh tra, điều tra vì lý do khách quan có thể không phát hiện ra được hết các sai phạm, nếu luật quy định cứng trách nhiệm liên đới đối với các sai phạm do không phát hiện ra tại các đơn vị thì chưa thật hợp lý, trừ trường hợp phát hiện sai phạm mà trong đó có căn cứ, chứng cứ chứng minh KTNN hoặc các thành viên đoàn kiểm toán: Vi phạm hành vi bị nghiêm cấm tại điều 8 hoặc thuộc trách nhiệm của các thành viên trong đoàn kiểm toán, của tổng KTNN thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Vì vậy, xin Quốc hội cho giữ như dự thảo luật quy định tại điều 8 về các hành vi bị nghiêm cấm.

Về nhiệm kỳ của tổng KTNN (khoản 3 Điều 12), qua thảo luận ở hội trường, đại biểu Quốc hội có hai loại ý kiến: Đề nghị quy định nhiệm kỳ tổng KTNN là 5 năm phù hợp với nhiệm kỳ của Quốc hội; đề nghị quy định nhiệm kỳ của tổng KTNN là 7 năm như luật hiện hành.

Sau khi xin ý kiến các vị đại biểu Quốc hội, đa số đại biểu Quốc hội (79,23%) đồng ý với phương án: “Nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán nhà nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội (5 năm), có thể được bầu lại nhưng không quá hai nhiệm kỳ”.

"UBTVQH xin Quốc hội cho tiếp thu quy định về nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán nhà nước là 5 năm theo đa số ý kiến đại biểu Quốc hội, thể hiện tại khoản 3 Điều 12 của Dự thảo luật" - ông Hiển trình bày.

Thời hạn của cuộc kiểm toán là một nội dung được quy định chặt chẽ trong luật. Theo đó, thời hạn của cuộc kiểm toán được tính từ ngày công bố quyết định kiểm toán đến khi kết thúc việc kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán. Thời hạn của một cuộc kiểm toán không quá 60 ngày. Trường hợp phức tạp, cần thiết kéo dài thời hạn kiểm toán thì Tổng KTNN quyết định gia hạn một lần, thời gian gia hạn không quá 30 ngày.

Luật có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2016.

Clip Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân điều hành phiên họp