Từ lịch sử dân tộc đến ý thức hệ

Ý thức dân tộc, chủ nghĩa yêu nước và tinh thần đại đoàn kết phải là bệ đỡ tư tưởng cho hệ thống chính trị Việt Nam. Nói tới bệ đỡ tư tưởng, người ta hay nghĩ tới ý thức hệ. Và ý thức hệ lại luôn được hiểu là những nguyên lý của một học thuyết nào đó. Điều đó không sai, nhưng có lẽ chưa đủ, thậm chí trong nhiều trường hợp ý thức hệ không đồng nhất với bệ đỡ tư tưởng.

Trong thời kỳ phong kiến, một số nước Phương Đông, trong đó có Việt Nam đã coi Khổng giáo - một hệ thống giáo lý có nguồn gốc Trung Hoa - là khuôn vàng, thước ngọc để tổ chức nhà nước và xây dựng xã hội. Có thể nói Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam lúc ấy là các nước có cùng ý thức hệ. Lúc bình bình thì cái sự đồng văn đã khiến các nước này dễ dàng giao lưu và học hỏi lẫn nhau (mà thực chất là học từ mô hình văn minh Trung Hoa). Tuy nhiên, ý thức hệ Khổng giáo (hay Nho giáo) không phải là cốt lõi cho bệ đỡ tư tưởng của mỗi dân tộc. Ở Việt Nam đó là ý thức tự tôn dân tộc, chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc và lòng nhân ái vị tha mới là căn cốt tạo nên bệ đỡ tư tưởng. Suy cho cùng, Nho giáo chỉ là cái vỏ, là hình thức.

Do điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử, trong quá trình phát triển của mình, Việt Nam luôn phải vượt qua những tử thách hiểm nghèo để dựng xây và bảo vệ tổ quốc. Vũ khí tư tưởng giúp dân tộc ta giành thắng lợi chưa bao giờ là Nho giáo, mà chính là những nhân tố căn cốt nói trên. Trong lịch sử dân tộc thời quân chủ, triều đại rất ít Nho giáo (như nhàTrần) lại là Nhà nước đã lãnh đạo nhân dân xây dựng được khối đoàn kết “trên dưới đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức” ba lần đại thắng quân Mông-Nguyên, đạo quân hung mạnh và hung hãn nhất thế giới thế kỷ XIII. Còn chính quyền Nho giáo toàn trị như nhà Nguyễn thì lại “sợ dân hơn sợ giặc” để đến nỗi để đất nước rơi vào tay chủ nghĩa thực dân phương Tây, khiến cả dân tộc lâm vào cảnh nước mất, nhà tan.

Đấy là sự thật lịch sử.

Thực tế lịch sử chỉ chỉ ra rằng đồng văn, cùng ý thức hệ là một điều kiện thuận lợi chứ không hề nhân tố đảm bảo cho tình hữu nghị và dung hòa được lợi ích quốc gia, dân tộc. Cùng tôn thờ đạo Khổng -Mạnh, cùng chung hệ giáo lý lấy từ Tứ thư, Ngũ kinh, nhưng hầu như không có triều đại phong kiến Trung Hoa nào không cất quân sang đánh Việt Nam, nhất là vào những lúc chúng ta gặp khó khăn. Khi đã tràn vào nước ta thì họ bỏ hết những điều nhân nghĩa có trong giáo lý mà hành xử tàn bạo, dã man chẳng kém bất kỳ một đạo quân xâm lược nào. Đấy là sự thật lịch sử.

Tôi mong Đại hội XII của Đảng nhớ sâu sắc những bài học lịch sử này để coi ý thức dân tộc, chủ nghĩa yêu nước và tinh thần đại đoàn kết phải là bệ đỡ tư tưởng cho hệ thống chính trị Việt Nam. Chúng ta không nên tin rằng ai đó cùng ý thức hệ với ta thì họ bớt có tham vọng lãnh thổ của ta. Và cũng không thể hy vọng sự tương đồng về ý thức hệ sẽ làm chúng ta dễ dàng hơn để giải quyết vấn đề chủ quyền trên Biển Đông cũng như đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đảng Cộng sản Việt Nam chính là sản phẩm của văn hóa chính trị Việt Nam, bao gồm cả những sáng tạo về tư tưởng chính trị truyền thống và những tinh hoa của thời đại được tích hợp vào.

Hơn bao giờ hết tinh thần hòa hợp dân tộc, đại đoàn kết toàn dân và sự ủng hộ quốc tế là nhân tố căn bản tạo nên sức mạnh Việt Nam.

GS-TSKH Vũ Minh Giang (Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo ĐH Quốc gia Hà Nội) - Vương Hà (ghi)