Bức tranh Long Cung nơi góc nhà

“Nhà tôi đi suốt cả năm không về. Định cuối năm về phép thì có lệnh báo động...” - người vợ nói, tiếng rất xa như thể vọng về từ thổn thức. Bức thư cuối cùng trước khi ra đảo, người lính viết vào ngày mùng 9 tết, viết cho con gái lớn, khi đó cũng chỉ mới đang tập đánh vần.
Hôm đó là một ngày thứ hai. Cô giáo Phan Thị Quý còn nhớ rõ cái cảm giác “từ trên đỉnh cao rơi xuống giếng lạnh” khi nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc danh sách các thủy thủ mất tích sau trận chiến giữ đảo. “Nhà tôi ở số thứ tự 53”.
Nghe đến tên anh, cô không còn đứng vững được nữa. Những người hàng xóm láng giềng chạy sang an ủi là còn có mấy người bị Trung Quốc bắt, “biết đâu đấy”, rằng đừng có quá lo mà nhỡ anh ấy còn đang ở đâu đó lại nóng ruột. Nhưng cô Quý nói cô linh cảm thấy tai họa. Cả bầu trời như đang sập đổ trước mặt. Và sau đó, là cái cảm giác mất mát.
Gì nhỉ. Một người lính hy sinh vì tổ quốc. Và phía sau anh, còn mẹ già, còn vợ dại, còn hai con thơ.
Nước mắt vòng quanh, cô giáo Quý chỉ vào người con gái thứ hai, vừa từ Hà Nội về giỗ cha: “Cái Huế. Khi đó nó còn bé quá. Nó có biết gì đâu mà. Ai cho gì chỉ biết vui vẻ nhận ăn. Ra đường đón xe, nhìn thấy cái xe nào cũng reo lên xe của bố, xe của bố. Tôi nghe tiếng con trẻ hồn nhiên mà lòng đau như dao cứa.
Nhiều năm sau đó, cô giáo Quý và hai con gái mới được nghe kể lại, rằng chồng họ, cha họ đã xung phong ra đảo. Anh Phòng - Chính trị viên - bảo khi đơn vị “lấy tinh thần xung phong”, anh Tâm là người đầu tiên giơ tay. Anh ấy là đảng viên. Còn bác Thông đảo phó thì nói, anh Tâm nhanh nhẹn, vui vẻ lắm. Đi, còn động viên anh em trẻ “cứ đi với tao. Có sao tao lo”.

Người lính ấy đã đi mãi không về. Kỷ vật mà anh để lại không nhiều: Chiếc đài nhỏ cũ kỹ, chiếc đồng hồ và một tấm huy chương.

 

Cô giáo Phan Thị Quý - vợ LS Nguyễn Minh Tâm.
Cuộc chiến ấy, sự hy sinh ấy cô giáo Quý chỉ được biết qua câu chuyện của những người đồng đội của anh Tâm. Nhưng có một cuộc chiến khác sau lũy tre làng mà chính những người vợ như cô bất đắc dĩ phải trở thành một chiến sĩ.
“Những ngày ấy tôi nuôi con trong đau thương và vất vả. Các cháu đau ốm luôn”. Cô giáo Quý vừa làm người thầy ngày ngày đứng lớp, làm người mẹ và đóng luôn cả vai người cha, “đong thóc xay giã, làm hàng xáo; khâu nón, nấu rượu; mò cua, bắt ốc…”.
Từ sau sự hy sinh của người chồng liệt sĩ, người phụ nữ kiên cường ấy đã không bao giờ cho phép bản thân yếu mềm trước mặt con mình.
Cho đến năm 2009. “Tôi vào Trung đoàn 83 hai lần - lời cô Quý. - Việc nhà tôi hy sinh vì đất nước cũng coi như đã hoàn thành. Nhưng sau lũy tre làng còn mẹ già, con dại, còn cả những người vợ như tôi nữa. Mơ ước của gia đình là làm sao đưa anh về. Cứ chơi vơi nơi biển xa thế này đau xót lắm”.
Ở góc nhà, người phụ nữ đoái chồng treo một bức tranh Long cung, hướng về phía đông nam, để tưởng nhớ chồng còn đâu đó ngoài Trường Sa, cũng là để mong cho người đã khuất ở nơi xa được siêu thoát.
Không biết là vì lời khẩn cầu của người vợ hay nỗi lòng của những người con, đến năm 2009, mẹ con cô Quý lại hết nước mắt khi được báo tin đã tìm lại được một ít di hài của chồng, của cha.
Minh Hà giờ cũng đã trở thành một cô giáo. Cô cũng như mẹ, được an ủi rất lớn khi sau hơn 20 năm được đón cha trở về.
Nỗi khắc khoải 26 năm
Cách đó 40km, ở Đông Hưng, chứng rối loạn tiền đình bắt đầu xuất hiện ngay sau ngày 14.3.1988 vẫn chưa thôi hành hạ người lính già Nguyễn Văn Mạo.
Từ bộ binh tháng 2.1961, qua hải quân rồi về Quân chủng Phòng không - Không quân. Từ cầu Bạn, Hàm Rồng, ngã ba Đồng Lộc đến bến phà Linh Cảm. Người lính dày dạn trận mạc giờ cứ trở nên đăm chiêu khi mỗi lần nhắc đến ngày hy sinh của đứa con trai: Liệt sĩ Nguyễn Văn Phương. Cũng đúng vào ngày 14.3.1988. Cũng vẫn là Gạc Ma.
“Thằng Phương có giấy gọi đi nghĩa vụ quân sự. Lúc ấy, tôi phục viên về làm chủ tịch xã. 4h chiều một ngày năm 1986, có giấy báo sáng mai phải có mặt ở huyện đội để nhập trường quân sự Hà Tây và ngay tháng sau thì vào hải quân”.
Hôm Phương đi, chính người cha chủ tịch đưa tiễn anh, vô tư đấm con một phát vào vai thay lời động viên, thay cả những lời dặn dò.

Và đến giờ, người cha già vẫn còn giữ cả hai tờ giấy. Giấy báo nhập học ông cầm bên tay phải. Giấy gọi nhập ngũ cầm bên tay trái.

 

Giấy báo nhập học Trường Sĩ quan Lục quân của LS Nguyễn Văn Phương vẫn được gia đình cất giữ cẩn thận.
Dường như ai đó trong chúng tôi có một cử chỉ tiếc nuối. Người cha già nua, ốm yếu nhưng mẫn cảm nhận ngay thấy điều đó. “Em nó hy sinh vì đất nước thì có gì đâu mà hối tiếc” - giọng ông bình thản lạ lùng.
Cầm trên tay lá thư đứa con trai ngoan ngoãn học giỏi viết vào ngày 6.3.1988, ông bảo: “Nhiều người xem thư nói nó viết gở. Rằng sao lại nói là đừng viết thư cho nó nữa. Tôi không tin. Chỉ là nó không muốn cha mẹ phải bận lòng khi ra đảo thôi”. Thư người cha nhận được 2 hôm thì nghe tin con mình hy sinh.
Sáng ngày 14.3.1988, ông Mạo - bấy giờ là chủ tịch xã - lội bộ xuống các thôn đôn đốc đồng bào đi kinh tế mới. Về đến ngõ, ông vấp liên tục. Nhìn những giọt nước mắt của vợ; nom thấy sự ái ngại trên khuôn mặt hàng xóm láng giềng bấy giờ đã sang kín sân, ông như muốn khuỵu xuống, mắt nổ hoa và đầu đau như búa bổ.
Người mẹ liệt sĩ, lưng còng rón rén đi ra từ sau tấm riđô. “Bữa đó tôi đang ở ngoài giếng, nghe đài đọc đúng tên con mình mà chết lặng”. Chiều đó, các ban ngành, đoàn thể đến thăm nhưng bà không muốn tiếp. Bà không muốn tin rằng con mình sẽ không bao giờ về nữa.
Ít lâu sau đó, người cha xin nghỉ chức chủ tịch. Nỗi nhớ người con hy sinh nơi đảo xa của yổ quốc khiến ông xuống sức, với những cơn cao huyết áp, rối loạn tiền đình.
Giờ đây, 2 người già sống với nhau dưới một mái nhà gạch được những người đồng đội của con mình ở Vùng 4 Hải quân xây lên.
“Hồi xưa, người cha nào cũng sẽ động viên con mình lên đường thôi. Nhưng nó chết rồi thì giờ gia đình chỉ mong được đón về, dù là chút xương tàn của nó. Có phải chết không biết ở đâu đâu. Nó nằm ngay ở Gạc Ma. Cứ để lâu thì tan hết còn đâu. Lắm lúc tôi hỏi tại sao giữa mình với Trung Quốc giờ không mâu thuẫn nữa mà họ lại không giúp đưa con tôi về?”.
Đến khi chúng tôi xin phép rời đi, người mẹ vẫn cố gắng ra đến cổng để nói với theo rằng: “Có đợt các anh đến lấy máu làm ADN gì đó, nhưng nhà tôi lại “không trúng”. Nguyên một dãy mộ ở Mê Linh này chỉ có mỗi mộ của thằng Phương dù có tên, có bia nhưng không có cốt. Thế là làm sao?”.

Chúng tôi đã đi như muốn tránh câu hỏi của người mẹ.

Chương trình tiếp tục vận động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ủng hộ các nguồn lực để xây dựng đền tưởng niệm 64 chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam anh dũng hy sinh trong trận Gạc Ma (huyện đảo Trường Sa) thuộc tỉnh Khánh Hòa và hỗ trợ cha, mẹ, vợ, con, thân nhân của những người lính hy sinh trong hai trận hải chiến Hoàng Sa (năm 1974) và Trường Sa (năm 1988) đang gặp khó khăn.

Mọi sự giúp đỡ xin gửi về: Quỹ Tấm lòng vàng Lao Động

Địa chỉ: 51 Hàng Bồ, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

ĐT: 04.39232756; fax: 04.39232737, 098.397.1279; 098.222.1960.

Tại TP.Hồ Chí Minh: Cơ quan thường trú Báo Lao Động

Địa chỉ: 43 Hoa Đào, quận Phú Nhuận, TP.Hồ Chí Minh. ĐT: 08.35171402; fax: 08.35171407.

Tại Đà Nẵng: Văn phòng Báo Lao Động tại miền Trung - Tây Nguyên

Địa chỉ: 86 Lê Duẩn, TP.Đà Nẵng, ĐT: 0511.3825132.

Tại Cần Thơ: Văn phòng Báo Lao Động tại Đồng bằng sông Cửu Long

Địa chỉ: 101 Trần Văn Hoài, TP.Cần Thơ, ĐT: 0710.3823020;

Hoặc chuyển khoản về Quỹ Xã hội từ thiện Tấm lòng vàng

Số tài khoản VND: 10201.00000.13374;

Số tài khoản USD: 10202.00000.02906;

Số tài khoản EUR: 10203.00000.00075;

Tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, chi nhánh Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Phần dành cho các tổ chức, các nhân gửi tiền từ nước ngoài:

Bene ficiary name: Quy Xa hoi tu thien Tam Long Vang.

Bene ficiary Bank: Industrial anh Commercial Bank of Viet nam.

(Bic code: Icbvvnvx). Hoan Kiem Branch (37 Hang Bo, Hoan Kiem, Ha Noi).