Trong vụ việc này, có một số vấn đề cần phải đặt ra để xem xét vì hiện nay cơ quan điều tra vẫn đang tiến hành các hoạt động điều tra để làm rõ nội dung vụ án.

Thứ nhất:  Nếu cơ quan điều tra xác định ông Nguyễn Thanh Chấn không phạm tội và có quyết định đình chỉ bị can đối với ông Nguyễn Thanh Chấn. 

Đồng thời, Cơ quan điều tra không khởi tố vụ án và khởi tố bị can để điều tra về các tội phạm như: Bức cung, nhục hình, thiếu trách nhiệm, khai báo gian dối…, theo như nội dung ông Nguyễn Thanh Chấn đã tố cáo. 

Nếu đúng như vậy thì có nghĩa là ông Nguyễn Thanh Chấn đã bị oan sai và đã chính thức được minh oan. Trong trường hợp này, Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội sẽ có trách nhiệm phải bồi thường.

Thứ hai:  Nếu cơ quan điều tra xác định ông Nguyễn Thanh Chấn không phạm tội giết người, nhưng lại có quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can đối với ông Nguyễn Thanh Chấn để tiến hành điều tra về một tội phạm khác (ví dụ như cố ý khai báo gian dối). 

Như vậy có nghĩa là ông Nguyễn Thanh Chấn chưa chính thức được xác định là có bị oan sai hay không. Trong trường hợp này, cần phải đợi kết quả xem xét cuối cùng của cơ quan tòa án. 

Nếu có đủ căn cứ chứng minh ông Nguyễn Thanh Chấn đã “cố ý khai báo gian dối” thì việc bồi thường đói với ông Chán có thể sẽ không được xem xét (Điều 27, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước).

Thứ ba:  Nếu cơ quan điều tra xác định ông Nguyễn Thanh Chấn không phạm tội và có quyết định đình chỉ bị can đối với ông Nguyễn Thanh Chấn; đồng thời, cơ quan điều tra có quyết định  khởi tố vụ án và khởi tố bị can để điều tra về các tội phạm khác như: Bức cung, nhục hình, thiếu trách nhiệm… - theo như nội dung ông Nguyễn Thanh Chấn đã tố cáo. Nếu đúng như vậy thì có nghĩa là ông Chấn đã bị oan sai và đã chính thức được minh oan.

Tuy nhiên, việc giải quyết bồi thường trong trường hợp này cần phải đợi kết quả giải quyết cuối cùng. Nếu chứng minh được có người phạm tội bức cung, nhục hình, thiếu trách nhiệm… thì việc giải quyết bồi cho ông Nguyễn Thanh Chấn có thể sẽ áp dụng theo qui định tại Điều 42 Bộ luật Hình sự: 

Người phạm tội phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại”.

Đồng thời, có thể áp dụng Điều 604, Điều 618, Điều 620 Bộ luật Dân sự “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. 

Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật. 

Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiến hành tố tụng” để xem xét trách nhiệm bồi thường hoặc trách nhiệm liên đới phải bồi thường, trên cơ sở căn cứ vào mức độ lỗi của cơ quan, tổ chức, cá nhân có sai phạm.

Văn phòng luật sư Dương Minh Nhâm

Đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang